Kiến thức thực dưỡng

Lịch sử thực dưỡng

Cập nhật449
0
0 0 0
Thực dưỡng (tiếng Anh: macrobiotic diet hoặc macrobiotics, xuất phát từ tiếng Hy Lạp: μακρός có nghĩa là lớn và βίος là đời sống) là một chế độ ăn kiêng hợp mốt (tiếng Anh: fad diet) và dưỡng sinh một cách cố định dựa trên các ý tưởng về các loại thực phẩm được rút ra từ Thiền tông.[1] Chế độ ăn uống này cố gắng cân bằng các yếu tố âm dương của thực phẩm và của dụng cụ nấu nướng. Nguyên tắc chính của chế độ ăn uống thực dưỡng là giảm các thực phẩm từ động vật, ăn thực phẩm được trồng tại địa phương đang trong mùa và tiêu thụ bữa ăn trong chừng mực. Điểm hội tụ của triết lý và thực hành nằm chính yếu ở thực phẩm và sự ăn uống.

Nguồn gốc
Thời Hi Lạp Cổ đại, người ta đã sử dụng thuật ngữ Đời sống lớn (macrobiotic) để chỉ một phép dưỡng sinh tự nhiên và kéo dài tuổi xuân. Năm 1796, bác sĩ người Đức mang tên Christoph Wilhelm Hufeland đã ngợi ca một cuộc sống lành mạnh và một chế độ ăn uống thích hợp, được gọi là Makrobiotik. Georges Ohsawa đã mượn tên này để tây phương hóa nghệ thuật Tân Dưỡng Sinh mà ông truyền bá.

Ở Phương Đông, từ lâu các dân tộc nơi đây đã thiết lập được mối quan hệ giữa thực phẩm, vạn vật,năng lượng tâm linh và sức khỏe qua một hệ thống triết lý sâu sắc từ Kinh Dịch. Nền y khoa của phương Đông chú trọng sử dụng các loại thảo dược, cùng phương pháp ăn uống thích hợp để điều tiết sức khỏe. Trong thiền tông Nhật Bản, người ta đã áp dụng một chế độ ăn gọi là nấu ăn shōjin (精進料理, shōjin ryōri), là một chế độ ăn giúp tăng cường trí phán đoán.

Giáo sư Sagen Ijizuka (1850 - 1909) người Nhật, được xem là người đi tiên phong trong việc ghi lại các hiểu biết trong truyền thống sang ngôn ngữ khoa học. Trước ông, có nhiều người đã nghiên cứu con đường này, nhất là Ekiken Kaibara (1630-1716), trong đó tất cả các ghi chép của ông được tập hợp lại trong cuốn sách tên là Yojokun (Lời khuyên để Trường sinh)

Ohsawa
Một trong những mục đích của Georges Ohsawa là thống nhất các quan niệm duy vật của phương Tây và siêu hình học của Phương Đông, qua đó giải quyết các xung đột của nhân loại. Ông dành trọn cả cuộc đời để chứng minh tính đúng đắn và cần thiết của lý thuyết của mình. Nó nhấn mạnh sự cần thiết phải thông đạt về lý thuyết Âm-Dương, cùng với sự thực hành của bản thân để kiểm chứng. Với ông, mục đích trước hết là khai mở trí phán đoán, để con người có khả năng đọc hiểu một cách tổng thể tất cả các tình huống và những vấn đề hóc búa, qua đó quyết định có nên làm hay không, tự do trong sự biết rõ nguyên nhân và kết quả của chúng.

Hậu Ohsawa
Sau khi Ohsawa mất, Thực dưỡng được truyền bá đi khắp thế giới bởi các môn đệ của ông, với tư cách là một phương pháp với mục đích để có được sức khỏe. Vào giữa những năm 70, nó được phổ biến bởi Michio Kushi (1926), một đệ tử của Ohsawa, tại Boston, Hoa Kỳ. Kushi đã phát triển phương pháp này một cách có hệ thống, có sự hợp tác và đồng thuận với các cơ quan chức trách (Bộ Y tế Hoa Kỳ, các hiệp hội Y-Bác sĩ...), nhấn mạnh đến mặt dưỡng sinh và trị bệnh của phương pháp này. Nó cũng được điều chỉnh đề phụ hợp hơn với chế độ ăn của người Mỹ để họ dễ dàng thực hiện hơn (được gọi là Thực dưỡng hiện đại) kết hợp với các phương pháp khác như bấm huyệt, xoa bóp, châm cứu, và các học thuyết Đông Y khác như ngũ hành.

Ở Pháp, ngày nay nó vẫn giữ được hình ảnh của mình, với các luận cứ về dinh dưỡng vững chắc được các phương tiện truyền thống ca ngợi. Thực dưỡng, với tư cách là một chế độ dinh dưỡng vì sức khỏe, đã được các nước Anglo-Saxon và các nước Tây Bắc Âu (Hà Lan, Pháp, Đức) đón nhận. Trong vài năm gần đây, nó trở thành mốt tại Mỹ, nhờ vào số lượng người đông đảo thực hành, đặc biệt là các ngôi sao nổi tiếng.[cần dẫn nguồn] Trong những năm 1990, nó đã được phổ biến tại Đông Âu.

Một số các nhà thực dưỡng nổi tiếng:
  • Herman Aihara (1920-1998)
  • Michio Kushi (1926) ở Mỹ
  • Tomio Kikuchi (1926) ở Brasil
  • René Lévy (-2010)
  • Françoise Rivière (1916-2006) tại Pháp
  • Lima Ohsawa (1898-1999) ở Nhật
  • Mario Pianesi ở Italia
  • Jacques Skalka (1941-2012) ở Bỉ

Nền tảng thực dưỡng
Chế độ ăn uống thực dưỡng gắn liền với Thiền tông và dựa trên ý tưởng cân bằng âm dương. Chế độ ăn uống này đề xuất ra 10 kế hoạch ăn uống khác nhau được thực hiện để đạt tỷ lệ âm : dương là 5:1. Chế độ ăn thực dưỡng được phổ biến bởi George Ohsawa vào những năm 1930 và sau đó được đệ tử của ông là Michio Kushi nối tiếp.

Thực dưỡng nhấn mạnh các ngũ cốc nguyên hạt được trồng tại địa phương, đậu, rau củ, các loại rong biển ăn được, các sản phẩm từ đậu nành lên men và trái cây kết hợp thành các bữa ăn theo nguyên tắc cân bằng của Trung Quốc cổ đại được gọi là âm dương. Ngũ cốc nguyên hạt và các sản phẩm của ngũ cốc nguyên hạt như gạo lứt (gạo đỏ hoặc gạo nâu) và sợi mì kiều mạch của Nhật Bản (soba), nhiều loại rau củ nấu chín và rau sống, đậu và các sản phẩm từ đậu, gia vị tự nhiên nhẹ, cá, các loại quả cứng và hạt, đồ uống nhẹ (không chứa chất kích thích) như trà bancha, và trái cây được khuyến khích dùng.

Một số người đề xướng thực dưỡng nhấn mạnh rằng âm dương là những tính chất tương đối và chỉ có thể xác định được thông qua một so sánh. Tất cả các thực phẩm đều được coi là có cả hai tính chất của âm và dương nhưng với một tỉ lệ nào đó. Các thực phẩm có được gọi là dương thì được cho là cứng chắc, đậm đặc, nặng và nóng, trong khi những thực phẩm có tính chất âm được coi là có tính giản nỡ, nhẹ, lạnh và tính khuếch tán. Tuy nhiên, các điều này là tương đối; Dương hay Âm chỉ được nói đến liên quan đến các thực phẩm khác.

Gạo lứt và các loại ngũ cốc nguyên hạt khác như lúa mạch, kê, yến mạch, lúa mì, lúa mạch đen,... được thực dưỡng coi là các thực phẩm cân bằng âm dương. Do đó, trong các danh sách liệt kê các loại thực phẩm thực dưỡng, chúng thường được xác định là âm hay dương bằng cách so sánh với các loại ngũ cốc nguyên hạt.

Các loài rau củ trong họ cà bao gồm cà chua, ớt, khoai tây và cà tím cùng với rau bina, củ cải đường và bơ đều không được khuyến khích sử dụng hoặc chỉ được dùng một cách rất hạn chế trong nấu ăn theo phương pháp thực dưỡng, vì chúng được coi là mang tính cực kỳ âm. Một số người hành nghề thực dưỡng cũng không khuyến khích việc sử dụng thuốc ngủ vì chất solanine kiềm được cho là ảnh hưởng đến sự cân bằng canxi. 

Thực hành
Thực phẩm

Một số hướng dẫn chung về chế độ ăn uống thực dưỡng theo kiểu Nhật Bản như sau (chế độ ăn thực dưỡng cũng được nói rằng có thể thay đổi rất nhiều, phụ thuộc vào hoàn cảnh địa lý và cuộc sống của mỗi người):
  • Các loại ngũ cốc nguyên hạt được nhai kỹ, đặc biệt là gạo nâu (gạo lức): 40–60%
  • Rau củ: 25–30%
  • Đậu và các cây họ đậu: 5–10%
  • Súp miso: 5%
  • Rau biển: 5%
  • Thực phẩm được chế biến truyền thống hoặc tự nhiên: 5–10%
Cá và hải sản, các loại hạt, hạt nhỏ (seed) và bơ hạt tách vỏ, gia vị, chất làm ngọt, trái cây và đồ uống đôi khi có thể được sử dụng, hai đến ba lần mỗi tuần. Các sản phẩm động vật được nuôi lớn lên trong tự nhiên khác có thể được bao gồm nếu cần dùng trong quá trình chuyển đổi giữa các chế độ ăn uống hoặc theo nhu cầu của cá nhân.

Đồ dùng nhà bếp
Dụng cụ nấu ăn nên được làm từ một số vật liệu như gỗ hoặc thủy tinh, trong khi một số vật liệu bao gồm nhựa, đồng và lớp phủ chống dính là cần phải tránh. Các lò nướng điện không nên được sử dụng.
NguồnSưu tầm
Lượt xem18/06/2021
0 0 0
Chia sẻ bài viết
Trang chủ Liên hệ Tìm kiếm Tài khoản Danh mục
Hệ thống đang xử lý
Thông tin liên hệ của quý khách đã được gửi đến cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ nhanh chóng tiếp nhận và phản hồi thông tin cho quý khách trong thời gian thích hợp nhất. Đóng